Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Làng nghề Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Làng nghề Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Bộ sách "Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam"

 
Bộ sách là món quà rất ý nghĩa cho các bạn trẻ, giúp tìm hiểu và thêm yêu các làng nghề cổ truyền Việt Nam. Cũng thêm tự hào với "bản sắc văn hóa dân tộc".
Bộ sách Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam sẽ đem đến cho bạn khái quát về quá trình hình thành, phát triển cũng như những thăng trầm trong 7 ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Quạt Kẻ Vác - đậm đà bản sắc Việt Nam

Phơi quạt.
        
Hỡi cô thắt giải bao xanh,

Có về Canh Hoạch với anh thì về,

Canh Hoạch ít ruộng nhiều nghề,

Yêu nghề quạt giấy hay nghề đan khuya?

 
Ca dao xưa đã ca ngợi một nghề truyền thống trên đất trăm nghề, đó là nghề làm quạt ở Canh Hoạch (tên chữ của làng Vác hay còn gọi là Kẻ Vác). Nay thuộc xã Dân Hoà, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

Lịch sử một làng nghề

Không biết chiếc quạt giấy có từ thuở nào, chỉ biết rằng, nó được sử dụng từ rất lâu, là vật dụng quen thuộc trong cuộc sống đời thường của người dân.

Chỉ đơn thuần là một chiếc quạt giấy, nhưng nó lại chứa đựng trong đó nét đẹp văn hóa truyền thống, đậm bản sắc Việt Nam cũng như mang ý nghĩa giá trị tinh thần sâu sắc của người dân làng Vác.

Làng Vác, kẻ Vác hay Canh Hoạch xã Dân Hoà, Thanh Oai, là một làng quê có nhiều nghề thủ công truyền thống trong đó nổi tiếng nhất là nghề làm quạt giấy.

Quạt Vác bắt đầu xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ 19, cách đây khoảng 140-150 năm, do Mai Đức Siêu- người được coi là ông Tổ của làng khởi nghiệp. Dần dần nhiều gia đình theo nghề và chẳng bao lâu cả làng Canh Hoạch đều làm quạt.

Trước kia thợ Vác từ chỗ chỉ sản xuất quạt bán quanh vùng quê mình, đã tiến lên làm các loại quạt kỹ, quạt quý xuất khẩu và tham dự các cuộc đấu xảo, hội chợ ở Hà Nội và ở Paris.

Những người thợ quạt làng Canh Hoạch mỗi khi ôn lại truyền thống nghề nghiệp của mình, bao giờ cũng nhắc đến sự kiện đáng nhớ: Vào năm 1946, dân làng Canh Hoạch cùng nhau làm một chiếc quạt biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm ngày sinh của Người.

Đó là chiếc quạt thước - một loại quạt giấy dài một thước ta trên mặt quạt có châm kim hoa văn rất đẹp và hai bài thơ, trong đó có bài:

“Gió xuân hây hẩy Ba kỳ mát/ Muỗi cỏ vo ve một phảy tan/ Gia Cát quạt lông, Hồ quạt giấy/ Trước sau quét sạch lũ tham tàn.”

Tự hào hai tiếng quạt Vác

Quạt Vác vốn bền đẹp, khi quạt có nhiều gió. Nan cứng không mọt, được phất bằng nước cậy tốt, dính, nhẹ, lại được phất bằng giấy dó thủ công rất mịn và dai nên xưa nay được dãn gian ưa thích. Người làng Vác không chỉ duy trì từ nghề mà còn đưa quạt giấy lên tới đỉnh cao bậc nhất ở Việt Nam.

Trước kia, muốn làm quạt phải có một cái nan mẫu làm khuôn, ở đầu khuôn phải đóng sẵn một cái đinh con. Rồi khi làm theo, tất cả các nan đều phải đặt lên khuôn và làm đúng như vậy.

Việc khoan lỗ cũng phải khoan riêng, mà lại xiên lỗ hai, ba nan một, sau mới chắp vào thành một cái quạt Cách này rất đơn giàn nhưng năng suất lại thấp. Về sau kỹ thuật làm quạt Vác nhiều lần cải tiến, nâng cao, dần dần trở nên tinh xảo và năng suất cao hơn nhiều.

Tiêu chuẩn để có một chiếc quạt đẹp, bền, có hồn, đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố đầu tiên chính là nguyên liệu đặc trưng cần và đủ cho một chiếc quạt như: Tre tạo dáng cho chiếc quạt được chọn lựa rất kỹ lưỡng; tre được lấy ở nhiều nơi, nhưng tốt nhất vẫn là tre được trồng ở Lương Sơn và ít bị mối mọt; giấy dó phải là giấy dó Bắc Ninh vì nó có độ bền cao và dai, tạo cảm hứng cho các nghệ nhân khi sáng tác các tác phẩm mang đậm "màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp'!.. Khi đã có đầy đủ nguyên liệu, người thợ bắt đầu các công đoạn hoàn chỉnh chiếc quạt.

Do quạt được làm thủ công nên có rất nhiều công đoạn nhỏ đến từng chi tiết. Khi chọn được tre đạt yêu cầu, việc đầu tiên là chẻ tre và ngâm tẩm tre cẩn thận, kỹ lưỡng để tránh bị mốc, mối mọt.

Tiếp đến là đem ghép các nan tre đã chẻ lại với nhau rồi đóng nhài, dùng dao chuyên dụng gọt nan ghép cho thật đều. Định hình khung quạt xong, người thợ bắt đầu dán giấy lên các nan sao cho bề mặt quạt phẳng, không bị nhăn giấy.

Tiếp theo, người thợ với bàn tay tài hoa, khéo léo sẽ tạo hình trên mặt giấy nhiều chi tiết hoa văn, hình vẽ sống động... Khi tạo hình xong sẽ đến gập, quấn và xén những phần giấy thừa. Đây là công đoạn cuối cùng để làm nên chiếc quạt.

Ngày xưa, các cụ quy định một chiếc quạt gồm 17 hoặc 18 chiếc nan, nhưng bây giờ hầu hết đều làm theo yêu cầu của khách, họ đặt bao nhiều nan thì làm bấy nhiêu.

Sau khi hoàn chỉnh, nghệ nhân trang trí lên quạt nhiều hoa văn và hình vẽ truyền thống như hoa sen, hoa cúc, hay lưỡng long chầu nguyệt, tứ linh... bằng những nốt châm kim đều tăm tắp.

Chuẩn mực của một chiếc quạt đẹp là nan phải nhẵn bóng, giấy nhuộm đều với nốt châm kim tinh xảo. Đặc biệt, quạt làm bằng giấy dó có thể che lúc trời nắng, trời mưa mà vẫn giữ được độ bền, đẹp lâu năm.

Kỹ thuật châm kim trên quạt do thợ làm quạt ở làng Canh Hoạch sáng tạo ra từ những chiếc kim khâu được tết lại với nhau. Đây là một thủ pháp kỹ thuật phức tạp và độc đáo có một không hai, chỉ mới thấy có ở Việt Nam và cũng chỉ có làng Vác sử dụng kỹ thuật châm kim tạo hình và hoa văn trên quạt giấy một cách khéo léo mà thôi.

Đề tài châm kim khá phong phú, đa dạng. Điều đặc biệt là người thợ không cần vẽ sẵn mẫu lên quạt, mà hình ảnh được hiện ra từ óc sáng tạo, tưởng tượng theo bàn tay cầm kim rê đi thoăn thoắt trên nền tím thẫm của quạt rất tinh vi.

Khi cầm quạt soi lên trời, ta sẽ nhìn thấy những hình vẽ hiện lên như một bức họa sống động như mây, rồng, phượng, tùng, trúc, cúc, mai... mà đường nét là những lỗ châm kim liền nhau, với kỹ thuật đạt tới độ chuẩn xác cao.

Cuộc sống ngày một khá hơn, con người dần tiếp cận và thích nghi vời các đồ điện hiện đại như quạt điện, điều hòa nhiệt độ những tường nghề làm quạt sẽ mai một nhưng ngược lại nghề làm quạt khá ổn định chứ không bị rơi vào tình trạng mai một hay lúc thăng khi trầm như nhiều làng nghề truyền thống khác.

Nghề làm quạt vẫn ngày một phát triển và người dân làng Vác vẫn dư việc làm. Trung bình thu nhập từ nghề khoảng 500.000-700.000 đồng một gia đình mỗi tháng. Vài năm trở lại đây, từ một vật dụng thông thường, quạt làng Vác đã trở thành món quà lưu niệm mang bản sắc Việt Nam.

Mỗi một chiếc quạt được làm ra đều ẩn chứa trong đó niềm vui, nỗi buồn, cũng như cuộc sống của người dân gắn bó cùng với sự hình thành và phát triển nghề làm quạt tử những ngày đầu tiên.

Chiếc quạt Vác được ví như "linh hồn" của làng, không chỉ để làm mát, nó còn là nhân chứng chứng kiến sự thăng trầm của lịch sử, của thời gian.

Và để hàng năm, cứ vào tháng Ba âm lịch, những người con làng Vác tổ chức lễ hội làng với nghi lễ rước quạt để tỏ lòng thành kính với người đã đưa nghề quạt giấy trở thành nghề truyền thống của làng./.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Nét văn hóa bình dị của làng nghề tò he Xuân La - Phượng Dực - Phú Xuyên

Tài hoa của người Xuân La thể hiện qua từng tác phẩm.

Là một làng quê bình dị ở phía Nam Thủ đô Hà Nội, làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, từ lâu đã nổi tiếng với một nghề độc nhất vô nhị ở nước ta - nghề nặn tò he.

Vượt lên trên giới hạn của một nghề mưu sinh, nặn tò he ở Xuân La đã trở thành nét đẹp văn hóa dân gian, góp phần giáo dục cho nhiều thế hệ tuổi thơ ở khắp mọi miền đất nước về lịch sử, bản sắc văn hóa và cội nguồn dân tộc Việt.

Cũng tại ngôi làng này, mới đây, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam đã chọn làm địa điểm để tổ chức Hội thảo khoa học "Thực trạng và giải pháp phát huy giá trị nghề sản xuất đồ chơi truyền thống hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long".

Về Xuân La, chúng tôi đã được chứng kiến những cụ già tuổi đã ngoài 80, thanh niên và cả những em bé còn chưa đến tuổi vào lớp 1 say sưa nặn những bông hoa hồng đỏ thắm, những chú mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, những cô thôn nữ áo mớ bảy mớ ba rực rỡ hay hình tượng anh hùng Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, chàng Thạch Sanh dũng mãnh đánh thắng trăn tinh.

Theo các cụ cao niên ở Xuân La, nghề nặn tò he để làm đồ chơi cho trẻ thơ đã có ở Xuân La từ hơn 300 năm nay. Ban đầu, những lúc nông nhàn, người dân trong làng thường lấy gạo nếp hoặc gạo tẻ đem giã mịn, hấp chín rồi lấy nước rau ngót giã để tạo nên màu xanh, quả gấc tạo mùa đỏ, nước củ nghệ tạo màu vàng, củ nghệ đen tạo màu tím... rồi đem nặn thành hình những con giống ngộ nghĩnh, xinh xắn.

"Hữu xạ tự nhiên hương", lúc đầu chỉ người dân và trẻ thơ ở trong vùng biết và thích thú với những đồ chơi được nặn bằng bột. Dần dần trải qua năm tháng, người Xuân La đã đem nghề đi muôn nơi, những đồ chơi xinh xắn được nặn từ bột gạo có tên gọi chung là tò he đã trở thành thứ đồ chơi được yêu thích của bao thế hệ trẻ thơ từ Bắc, vào Nam.

Từ những nguyên liệu hết sức đơn sơ, giản dị là những sản phẩm nông nghiệp như hạt gạo, lá rau, qua bàn tay những người nông dân tài hoa, phút chốc đã tạo nên hình ảnh những vị anh hùng dân tộc, những nhân vật cổ tích, những sản phẩm quen thuộc của nhà nông như bông lúa vàng óng ngày mùa, con cá chép đang cong mình vượt vũ môn, chú trâu thong dong gặm cỏ... góp phần nuôi dưỡng tâm hồn trong trẻo, thơ ngây của trẻ thơ, thể hiện phần nào tâm hồn và cốt cách người dân đất Việt.

Chính nhờ những nét độc đáo và tài tình trong cách tạo nên đồ chơi cho trẻ thơ mà người thợ Xuân La cùng những sản phẩm tò he đã không ít lần có mặt trong các chương trình giới thiệu, trao đổi văn hóa tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ...  và đã tạo được ấn tượng đẹp, sức hấp dẫn rất riêng với bạn bè quốc tế.

Trong ngôi nhà nhỏ chứa đầy các khay, hộp xốp chứa bột nếp, bột tẻ đủ màu sắc, anh Đặng Văn Hổ - người liên tục có mặt tại Bảo tàng Dân tộc học để hướng dẫn các em nhỏ tự tay nặn tò he tự hào cho biết nghề nặn tò he là nghề cha truyền con nối của gia đình anh từ hàng chục năm nay. Bản thân anh, đã nặn thành thạo những bông hoa, con rồng, con trâu, bông lúa từ năm lên 4 tuổi.

Không chỉ gia đình anh, đã là người Xuân La, dường như ai cũng được trời phú cho đôi tay khéo léo và trí tưởng tượng cực kỳ phong phú để chỉ cần đưa ra yêu cầu và  trong vòng 3-5 phút, một em nhỏ ở Xuân La cũng có thể hoàn thiện ngay sản phẩm. Quả không sai, vừa trò chuyện với chúng tôi, chỉ một loáng là hai cháu Đặng Văn Hữu (4 tuổi) và Đặng Thị Nhi (8 tuổi) đã nặn xong một bông hoa và một chiếc đèn ông sao.

Ông Nguyễn Công Doanh, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phượng Dực cho hay nặn tò he không chỉ là nghề tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người dân lúc nông nhàn ở Xuân La mà còn là nghề tạo nên nét đẹp văn hóa cổ truyền của một vùng quê phía Nam Thủ đô.

Một số nghệ nhân cao tuổi như cụ Đặng Văn Tố, Nguyễn Văn Thuận đã qua đời song lớp thợ trẻ như anh Đặng Văn Hổ, Đặng Văn Thảo đang tiếp tục nối gót. Họ liên tục được mời đến Bảo tàng Dân tộc học, các trường mẫu giáo, tiểu học để hướng dẫn thiếu niên, nhi đồng nặn tò he, giúp các cháu thêm hiểu, thêm yêu bản sắc văn hóa và lịch sử dân tộc qua những đồ chơi giàu tính nhân văn.

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Lồng chim làng Vác

Những người sành chơi chim rất cầu kì trong việc chọn lựa những chiếc lồng nuôi chim ưng ý và không phải ngẫu nhiên mà họ lại tin chọn lồng chim làng Vác, bởi ba yếu tố mà họ đưa ra đều đáp ứng được đó là bền, đẹp và sang. Chính những điều này đã làm nên thương hiệu của một làng nghề danh tiếng trên đất Bắc.
                               
Cách Hà Nội chừng 30km là làng Vác, tên nôm của làng Canh Hoạch, nay thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai (Hà Nội), nơi có các nghề truyền thống như làm quạt, làm khuôn nón, làm tượng và đặc biệt là làm lồng chim.
Cả xã có 4 làng là Canh Hoạch, Vũ Lăng, Tiên Lữ, Phú Thọ với 2.340 hộ dân thì có đến hơn 400 hộ làm lồng chim. Trong đó, Canh Hoạch là phát triển nhất với hơn 100 hộ làm lồng chim. Thu nhập của mỗi hộ trung bình cũng đạt 5-10 triệu đồng/tháng.
Tại nhà nghệ nhân Nguyễn Văn Nghệ ở làng Canh Hoạch, những chồng lồng chim xếp chen kín cả lối vào. Ông hồ hởi cho biết đang chuẩn bị đóng hàng xuất vào thành phố Hồ Chí Minh. Qua câu chuyện với ông, được biết rằng nghề làm lồng chim ở làng Vác đã có từ lâu đời, cha truyền con nối. Cho đến nay, dân làng Vác vẫn còn tự hào mỗi khi kể lại chuyện lồng chim làng Vác đã từng đoạt huy chương tại các kì đấu xảo ở Hà Nội thời Pháp thuộc.


Lồng nuôi chim vành khuyên của làng Vác.

Lồng chim làng Vác nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc nhờ đáp ứng đủ các tiêu chí: bền, đẹp và sang...

Nghệ nhân Nguyễn Văn Nghệ là người làm lồng chim nổi tiếng ở làng Vác.

Hình ảnh phơi tre được thấy ở khắp mọi nơi trong làng Vác.


Những chi tiết chạm trổ tinh xảo đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao.

Với đôi bàn tay khéo léo, người dân làng Vác đã làm nên những chiếc lồng chim đẹp nổi tiếng.


Để đáp ứng được ba tiêu chí bền, đẹp, sang, người thợ làng Vác phải kì công làm khá nhiều công đoạn như vót nan làm đáy, làm vanh (vành), cửa, cầu, trang trí trên vanh, ráp lồng… Tre, trúc nguyên liệu phải là loại tre rừng mua về từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Hòa Bình, Cao Bằng… Sau đó sử dụng một loạt phương cách gia truyền từ ngâm tre, luộc tre, thậm chí là… nướng tre để cho ra những nan lồng đạt độ chuẩn về khả năng chống mối mọt... Ấy là chưa kể đến việc phải chuốt thế nào cho hàng trăm, hàng nghìn nan tre được tròn và thẳng tắp như nhau. Tuy nhiên, như nghệ nhân Nguyễn Văn Nghệ cho biết, làm lồng chim không khó ở công đoạn vót nan, mà khó ở việc chạm đường viền cho các vanh lồng. Trên vanh lồng, những họa tiết rất nhỏ như một bài thơ chữ Hán; hình long, ly, quy, phượng; hình cây cỏ, hoa lá … được chạm khắc một cách tinh xảo bằng vô số đường nét nhỏ tỉ mỉ và chính xác. Chỉ bằng một lưỡi dao rất nhỏ cùng với đôi tay tài hoa, người thợ làng Vác đã chạm khắc nên những chiếc vanh lồng đẹp như tranh vẽ.
Một điều thú vị khác là người thợ làm lồng chim phải có kiến thức nhất định về hính dáng và tập tính sinh hoạt của từng loài chim để làm nên những chiếc lồng phù hợp cả về hình dáng lẫn kích thước.
Về làng Vác hôm nay, người ta không khỏi ngạc nhiên trước sức phát triển mạnh mẽ của làng nghề. Những chiếc lồng chim có hoa văn chạm khắc tinh xảo của làng Vác theo chân du khách đi khắp mọi miền đất nước để phục vụ thú chơi chim cảnh tao nhã của người Việt.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Lai Xá - Ngôi làng của những nghệ sĩ nhiếp ảnh


Tại Việt Nam có một làng nghề thật lạ, độc nhất vô nhị, chuyên "lưu giữ" khoảnh khắc thời gian, đó là làng nhiếp ảnh Lai Xá, ở xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đặc biệt, đây còn là nơi phát tích của nền nhiếp ảnh Việt Nam.

Phủi bụi thời gian

Cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 20km, thôn Lai Xá gồm có 5 xóm và có một phố dài chưa đầy 1km, mang tên phố Lai. Nếu là người "dưng" và không rành lai lịch của Lai Xá, khó hình dung được rằng, đây lại là nơi “phát tích” của nền nhiếp ảnh Việt Nam. Dù đang chuyển mình theo hướng đô thị hóa, nhưng làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá có khá ít sự hiện diện của các cửa hàng nhiếp ảnh và không khí kém phần nhộn nhịp so với các làng nghề khác.

Ông Xuân Dịu, người đàn ông hơn 60 tuổi, có đôi mắt tinh nhanh, với mái tóc trải ngược, bồng bềnh và bộ ria mép khá nghệ sĩ, và là cây đa, cây đề của làng nhiếp ảnh Lai Xá cho biết, nghề nhiếp ảnh của Lai Xá gắn liền với hai người đàn ông ở hai thời điểm lịch sử, hai câu chuyện khác nhau, đó là cụ Đặng Huy Trứ và cụ Nguyễn Đình Khánh. Nếu người thứ nhất là người đầu tiên du nhập nghề nhiếp ảnh vào Việt Nam thì người thứ hai, cụ Khánh là người có công phát triển nghề. Cả hai đều là người làng Lai Xá. Song, cụ Khánh mới chính là ông tổ của làng nghề nhiếp ảnh.

Theo lịch sử làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá, cụ Đặng Huy Trứ là người đầu tiên du nhập nghề nhiếp ảnh vào Việt Nam sau một lần đi sứ sang Trung Quốc vào năm Ất Sửu (1865). Tại đây, do thích thú với nhiếp ảnh, ông đã thuê một người Hoa mua dụng cụ rồi học nhiếp ảnh.

Về nước năm 1869, ông Trứ mở hiệu ảnh đầu tiên của Việt Nam tại phố Thanh Hà, nay là ngõ Gạch, Hà Nội. Song, khai sinh chưa được bao lâu và cũng chưa một người Việt Nam nào kịp học được nghề ấy thì của hiệu đã phải đóng cửa do chiến tranh. Phải đến năm 1890, khi ông Nguyễn Đình Khánh được người chú ruột giúp đỡ, đem ông từ Lai Xá đưa ra Hà Nội học nghề ảnh tại cửa hiệu Chu Dương của người Hoa thì nghề nhiếp ảnh Việt Nam kể từ lúc đó mới đứng trước cơ hội phát triển.

Sau 2 năm theo học ở hiệu ảnh người Hoa, ông Khánh đã tìm tòi, học hỏi được những ngón nghề, kỹ thuật chụp ảnh, kỹ thuật "buồng tối" để mở hiệu ảnh Khánh Ký tại phố Hàng Da, cạnh tranh với cửa hiệu Chu Dương. Năm đó, ông Khánh tròn 18 tuổi. Không chỉ mưu sinh bằng nghề ảnh, ông Nguyễn Đình Khánh đã về quê truyền nghề cho cả làng để từ đó mở ra thời kỳ hưng thịnh của làng nhiếp ảnh Lai Xá nói riêng và Việt Nam nói chung.

Với công lao biến một nghề ngoại nhập trở thành nghề truyền thống và đưa nghề nhiếp ảnh tới mọi miền đất nước, ông Khánh trở thành một trong bốn danh nhân nhiếp ảnh có tên trong Bách khoa thư Việt Nam, gồm Đặng Huy Trứ, Khánh Ký, Võ An Ninh và Đinh Đăng Định.

Sở hữu kỹ thuật chụp ảnh khéo léo và bí quyết pha thuốc hãm pha để đủ độ sáng cho ảnh do bậc thầy truyền dạy, các tay máy của Lai Xá có thể chụp cả chục cuộn phim trong điều kiện thời tiết không thuận mà độ bắt sáng vẫn đều, đẹp. Hiệu ảnh của người Lai Xá còn thể hiện "đẳng cấp" vượt trội so với các hiệu khác khi ở thời điểm đó, họ có thể đảm nhận được tất cả các công đoạn như chụp, làm buồng tối, chấm sửa, đến in, phóng ảnh.

Cửa hiệu ảnh do người Lai Xá mở ra không chỉ có mặt tại Hà Nội mà còn vươn ra Hải Phòng, Lào Cai, Sài Gòn, thậm chí, "vượt biên" sang cả Lào, Trung Quốc, Campuchia, Malaysia... Những năm 40-50 của thế kỷ trước, cả Hà Nội có khoảng 40 hiệu ảnh thì người Lai Xá chiếm 33 hiệu với những tên tuổi nổi tiếng như Kim Lai, Mỹ Lai, Vạn Hoa... Thậm chí, ở Sài Gòn theo thống kê có tới 80% số hiệu ảnh là do người Lai Xá làm chủ.

Giữ gìn và phát triển

Cuộc sống ngày càng phát triển với những ứng dụng tiên tiến của khoa học, công nghệ vào đời sống, nghề nhiếp ảnh cũng vậy. Đó không còn là nghề của riêng ai, riêng làng nào. Dù có trên 300 người thợ tỏa đi khắp nơi thủy chung với nghề, song tại chính nơi "phát tích" của nghề nhiếp ảnh, cách đây mươi năm chỉ còn một ban nhỏ để lưu giữ những nét văn hóa của làng nghề truyền thống. Nhiếp ảnh Lai Xá đứng trước những khó khăn không nhỏ.

Đối diện với những thách thức đó, năm 2002, những người Lai Xá có tâm huyết, coi chụp ảnh như cái nghiệp, là nét văn hóa riêng của làng quê mình chứ không đơn thuần là một nghề mưu sinh, đã thành lập Câu lạc bộ Nghệ thuật nhiếp ảnh Nguyễn Đình Khánh, gồm 30 người. Họ lấy đó làm nơi trao đổi kinh nghiệm, thể hiện niềm đam mê nhiếp ảnh. Các hội viên tham gia bình ảnh, đi sáng tác tập thể hay mời giáo viên về giảng dạy, trao đổi nghiệp vụ, đồng thời, tham gia hàng ngàn bức ảnh vào các cuộc triển lãm ảnh lớn ở trong và ngoài nước.

Trên 10 bức ảnh đặc sắc về thiên nhiên, sự vật, con người của các hội viên đã được trao giải cao trong những cuộc thi ảnh chào mừng Seagames 22 tổ chức tại Việt Nam, triển lãm ảnh các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và triển lãm ảnh “Nhịp sống đất và người Hà Tây"... Đặc biệt, câu lạc bộ còn tổ chức tới trên 10 triển lãm ảnh lớn nhỏ cho hội viên.

Giọng tự hào, ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ nhiệm câu lạc bộ Nghệ thuật nhiếp ảnh Nguyễn Đình Khánh nói, dù thuộc Hội nhiếp ảnh Hà Nội, song câu lạc bộ ra đời từ làng nghề, trong 24 thành viên của hội thì người Lai Xá chiếm đến 2/3. Những người thợ ảnh - những nghệ sĩ của làng nghề đang tích cực hoàn thiện các tư liệu, các sản phẩm nhiếp ảnh nổi bật của các tay máy Lai Xá ở trong và ngoài nước. Nhưng trước mắt, nhân kỷ niệm thành phố nghìn năm tuổi, câu lạc bộ chúng tôi sẽ tổ chức một triển lãm ảnh với khoảng trên 100 bức ảnh về đất và người Hà Nội.

Chủ tịch xã Kim Chung Lê Ngọc Toàn cũng cho biết, ngày nay thời thế thay đổi, người thợ Lai Xá cũng chuyển động. Trước là làm ảnh dịch vụ thì nay là ảnh nghệ thuật. Địa phương cũng mong muốn Lai Xá trở thành điểm du lịch văn hóa làng nghề để gìn giữ và phát triển nghề nhiếp ảnh độc đáo, góp phần làm nên nét văn hoá đặc sắc của Hà Nội.

Năm 2010, năm Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, cũng là năm thứ 118, người Lai Xá hành nghề nhiếp ảnh, kể từ khi cụ tổ Nguyễn Đình Khánh mở hiệu ảnh Khánh Ký ở Hà Nội, Dù không phát triển như trước, cũng không nhộn nhịp và không mang những dấu hiệu đặc trưng riêng như những làng nghề hiện đại nhưng Lai Xá vẫn độc đáo, trường tồn trong hàng ngàn làng nghề truyền thống ở Việt Nam./.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Làng nghề Rèn Đa Sỹ - Kiến Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Hàng trăm năm nay, làng Ða Sĩ, phường Kiến Hưng, quận Hà Ðông, không chỉ nổi tiếng vì là nơi có nhiều người học giỏi, đỗ cao, mà còn là nơi có nghề rèn truyền thống.

Nay làng Ða Sĩ có hơn 900 hộ dân làm nghề rèn, cung ứng sản phẩm cho thị trường cả nước.


Ðất học, đất nghề

Nằm bên dòng sông Nhuệ, cách trung tâm quận Hà Ðông hơn 1km về phía hạ lưu, có một ngôi làng nổi tiếng của xứ Ðoài văn hiến - làng Ða Sĩ.

Trải hơn một nghìn năm biến đổi, nay Ða Sĩ còn giữ được đầy đủ thiết chế của một làng Việt cổ gồm đình, chùa, đền với đủ các nghi thức của lễ hội văn hóa dân gian.

Theo truyền thuyết của nhân dân trong vùng, đất Ða Sĩ là đất tứ linh, có hình dáng một con rồng ngậm ngọc nên quanh năm mưa thuận gió hòa, dân làng làm ăn thịnh đạt.

Trước thế kỷ XVI, làng có tên gọi Ðan Khê, sau đổi là Ða Sĩ, vì có nhiều người học hành đỗ đạt. Ða Sĩ là quê của một Trạng nguyên, 11 tiến sĩ đã được ghi vào sử sách. Thành hoàng làng Ða Sĩ là danh y Hoàng Ðôn Hòa, dưới thời Lê đã được tôn vinh là "Lương y dược đại vương".

Lâu nay, Ða Sĩ không chỉ nổi tiếng vì làng có nhiều người học giỏi đỗ cao, mà còn là nơi có nghề rèn nổi tiếng. Tương truyền, nghề rèn Ða Sĩ có từ đời Hùng Vương thứ 18, là nơi cung cấp vũ khí cho các lạc hầu, lạc tướng giữ yên bờ cõi và sản xuất nông cụ phục vụ sản xuất, lao động.

Nhưng làng Ða Sĩ chính thức có được nghề rèn độc đáo như ngày nay là nhờ có hai vị tổ nghề là cụ Nguyễn Thuật và cụ Nguyễn Thuấn, khi đóng quân trên đất làng Sẽ xưa đã truyền những "bí quyết" nghề rèn cho người dân. Trải qua những biến thiên của lịch sử, nghề rèn ở Ða Sĩ vẫn tồn tại và ngày càng phát triển.

Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề rèn Ða Sĩ Ðinh Công Ðoán, thời kỳ trước và sau Cách mạng Tháng Tám, làng là nơi sản xuất nhiều giáo mác, dao kéo, quân dụng... phục vụ kháng chiến.

Từ năm 1960, làng thành lập hai hợp tác xã rèn là hợp tác xã Tiền Phong và hợp tác xã Ða Tiến. Chuyển sang cơ chế thị trường, do thiếu nguồn tiêu thụ và nguyên liệu, hợp tác xã bị giải thể. Các hộ dân tự tìm cách khôi phục nghề dưới hình thức sản xuất cá thể quy mô nhỏ ở từng gia đình.

Trước năm 1996, cả làng có hơn 300 lò rèn, làm ra hơn hai triệu sản phẩm một năm. Ðến năm 2000, trong thôn có 500 lò rèn, sản xuất hơn sáu triệu sản phẩm/năm. Cho đến nay, làng có khoảng 900 hộ làm nghề rèn truyền thống, 200 hộ cung ứng than sắt, gỗ và thu mua sản phẩm, chiếm 90% số hộ dân trong làng.

Sản phẩm rèn Ða Sĩ phong phú về chủng loại, kiểu dáng, kích thước. Ngoài những sản phẩm thông dụng, truyền thống, thợ rèn Ða Sĩ còn tìm cách sản xuất các loại hàng chuyên dùng phục vụ công tác khảo cổ, ngành may, chế biến thực phẩm...

Mỗi tháng, có hàng trăm tấn sản phẩm rèn Ða Sĩ được mang đi tiêu thụ tại thị trường trong nước và xuất khẩu sang thị trường Lào, Campuchia...

Ở Ða Sĩ, người đàn ông chủ gia đình là trưởng lò rèn, những thành viên khác trong gia đình đều tham gia công việc, tùy theo sức lực và lứa tuổi. Nam giới thường đảm nhiệm việc nặng như quai búa, chặt sắt, còn phụ nữ thì lo thu mua nguyên vật liệu, bán sản phẩm và làm một số việc nhẹ nhàng hơn.

Ngày nay, nghề rèn đã đỡ vất vả hơn, năng suất cao gấp đôi do các hộ gia đình đã tự đầu tư thêm máy cắt sắt, máy cắt hơi, hàn điện, búa máy.

Người thợ chỉ trực tiếp làm các công đoạn như tạo phôi, tạo hình, tạo dáng. Khó nhất là khâu tôi thép. Người tôi thép phải nhìn được nước thép và ước lượng được độ già non trong khi tôi. Ðây chính là bí quyết quyết định chất lượng sản phẩm.

Sản phẩm ở cơ sở sản xuất của nghệ nhân Ðinh Công Ðoán cũng chỉ dùng nguyên liệu là các loại sắt phế liệu, nhưng nhờ bí quyết riêng mà gia đình ông sản xuất nhiều mặt hàng dao, kéo cao cấp phục vụ các nhà hàng và cơ sở làm giày da, may công nghiệp, với chất lượng, giá cả ngang các loại hàng nhập khẩu.

Ông Ðoán cho biết các sản phẩm do xưởng nhà ông sản xuất đều được đặt hàng từ trước, nhưng cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu của thị trường.

Nghề rèn ở Ða Sĩ phát triển không chỉ giải quyết việc làm cho lao động địa phương, giúp các hộ dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu mà còn giải quyết nhiều lao động thời vụ của các địa phương khác.

Trước đây, người Ða Sĩ rất hạn chế thuê các lao động bên ngoài để giữ bí quyết nghề truyền thống, nhưng nay do nhu cầu mở rộng sản xuất, để đáp ứng các đơn hàng lớn, các xưởng sản xuất trong làng còn thu hút khoảng hơn 200 lao động từ các địa phương, thu nhập bình quân 50.000 đồng/ngày.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Làng nghề Mộc Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội

Nằm cách trung tâm Hà Nội chừng 30km về phía Tây, thôn Chàng Sơn, xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất vốn nổi tiếng với nghề mộc thủ công mỹ nghệ. Tên làng nghề ngày xưa là Nủa Chàng, chữ "chàng" ở đây chỉ là mang tên một dụng cụ để làm nghề mộc. Đến năm 1956, làng Nủa Chàng được gọi là Chàng Sơn. Ngoài nghề mộc là nghề chính, Chàng Sơn còn có các nghề thủ công mỹ nghệ như song mây cao cấp, tre giang đan, quạt giấy, đũa, quạt nan và các mặt hàng khác. Những sản phẩm của làng từ lâu đã theo chân khách hàng đi khắp mọi miền đất nước, vượt cả đại dương đến với bạn bè năm châu.
Người ta biết đến Chàng Sơn là một trong những làng nghề lâu đời nhất nước, xuất hiện chí ít cũng từ thế kỷ XV - XVI. Nơi đây có nghề truyền thống và nổi tiếng nhất là nghề mộc. Bên cạnh đó nghề in, nghề quạt và nghề song mây tre đan cũng khá phát triển. Mảnh đất này tự hào là cái lò cho ra đời những bộ tràng kỷ, tràng niên; là nơi làm ra chiếc quạt rộng 9m được trưng bày tại Hội chợ hoa Hà Nội năm 2008 và đã được đưa vào Sách kỷ lục Guinness...


Trải qua nhiều thế kỷ, nghề mộc ở Chàng Sơn không hề bị mai một như nhiều số phận làng nghề trong vùng. Trái lại, trong cơ chế thị trường, nghề mộc của làng ngày càng mở rộng, các sản phẩm mộc vươn xa, chiếm lĩnh các thị trường lớn trên toàn quốc, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm mộc của hàng chục làng nghề khác ở miền Bắc. Theo thống kê sơ bộ của xã, ngoài các sản phẩm được sản xuất từ gỗ thì trong làng cũng có tới hơn 10 cơ sở sản xuất các mặt hàng bàn ghế, đồ gia dụng từ song, mây, tạo việc làm cho hơn 200 lao động. Đến đất làng nghề, khách có thể thoải mái chọn lựa những sản phẩm gia dụng với mọi chất liệu khác nhau. Tiện lợi hơn cả là khách có thể đem mẫu hàng đến và yêu cầu người làng nghề sản xuất bằng những chất liệu mà mình yêu thích với giá thành hợp lý. Hiện nay, hầu như người dân nào ở Chàng Sơn cũng biết làm mộc. Đặc biệt, gần đây nhiều hộ dân nhạy bén đã đầu tư máy móc, tìm kiếm nguồn hàng, mẫu mã sản phẩm, mở rộng mặt bằng xưởng để chuyên sản xuất các mặt hàng mộc nội thất nhà ở, văn phòng cao cấp... vừa có lãi cao, thị trường tiêu thụ mạnh.

Ngày trước nghề mộc chỉ được coi là nghề phụ nhằm giải quyết nhu cầu việc làm và kiếm thêm thu nhập trong thời gian nông nhàn. Nhưng nay, với diện tích ruộng bình quân đầu người của xã quá thấp thì nghề mộc lại trở thành nghề chính nuôi sống các gia đình. Không tính đến những người vốn lớn, tự đứng ra mở xưởng sản xuất hoặc thành lập các công ty môi giới, buôn bán các sản phẩm mộc thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi năm thì với giá tiền công hiện nay cho một người thợ làm thuê là 100 ngàn đồng/ngày thì trung bình mỗi tháng một người thợ lành nghề cũng có thu nhập từ 2 - 3 triệu đồng/tháng. Đây là số tiền không nhỏ so với mức thu nhập ở nông thôn.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Nón làng Chuông - Ngời sáng vẻ đẹp truyền thống

"Muốn ăn cơm trắng cá trê
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông".

Nghề làm nón có tự bao giờ và ai là vị tổ của nghề thì dân làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội,  không rõ nhưng ai cũng biết chiếc nón trắng 16 vành đặc trưng của làng từ thời phong kiến đã từng được dùng để làm quà cho hoàng hậu, công chúa trong cung cấm.

Trải qua thời gian, trong thời kỳ cả nước hội nhập, nghề làm nón của làng không mất đi mà vẫn ngày càng phát triển. Từ chỗ là mặt hàng phục vụ các bà, các chị ở làng quê, nón Chuông nay  còn là mặt hàng lưu niệm mang giá trị văn hóa cho đông đảo du khách khi đến thăm Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung.


Từ những chiếc lá cọ, lá lội được mang về từ các tỉnh trung du, miền núi, người làng Chuông phơi nắng khoảng 3-4 lần cho đến khi màu xanh của lá chuyển sang màu trắng bạc. Đem về nhà, người thợ nón dùng lưỡi cày, giẻ hơ thật nóng để là, miết cho tấm lá thật phẳng, nhẵn mà không bị rách, giòn.


Chiếc nón đẹp hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào khâu “là” lá, có tấm lá phẳng, người thợ lấy tre, nứa làm vòng, lắp lá vào và khâu thật tỉ mỉ.

Hiện nay, làng Chuông cung cấp cho thị trường khoảng 3 triệu chiếc nón mỗi năm. Không chỉ cung cấp nón cho khắp miền Bắc, mà nón làng Chuông những năm trở lại đây đã theo các đoàn khách du lịch, đông nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông... ra nước ngoài. Khách hàng trong Nam chỉ cần gọi điện đặt số lượng, thoả thuận giá cả thống nhất, người làng Chuông sẽ tập kết nón gần bến xe Hà Đông, ngay lập tức chuyển hàng đi. Một số du khách nước ngoài yêu quý chiếc nón Việt đã về tận làng Chuông để tham quan và mua những món quà lưu niệm mang về quê hương. Đó có lẽ là món quà động viên quý giá nhất giúp người dân nơi đây vững tin hơn để giữ gìn và phát triển nghề.
Là một vùng thuần nông, đất chật người đông. Nghề nón muôn đời chỉ được coi là nghề phụ. Nhưng người dân nơi đây đều hiểu rằng, nhờ những chiếc nón giản dị ấy mà xóm làng được thay da, đổi thịt.

Sẽ khó có thể thấy hết được vẻ đẹp duyên dáng của những chiếc nón lá ẩn sau ngôi làng yên bình, dân dã ấy. Để rồi trong hội nghị APEC vừa qua, hình ảnh chiếc nón khổng lồ bất ngờ xuất hiện đã khẳng định thêm rằng chiếc nón lá thân thương bình dị của dân tộc sẽ không bao giờ mất nhờ bàn tay tài hoa và lòng nhiệt huyết của những con người bình dị nơi đây.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Làng nghề Khảm trai Chuyên Mỹ - Phú Xuyên

         Xã Chuyên Mỹ, Phú Xuyên cách Hà Nội khoảng 46km có một làng tên là Ngọ Hạ, còn gọi là Chuôn Ngọ, nơi có nghề khảm trai nổi tiếng từ lâu đời. Theo truyền thuyết nghề khảm ở Chuyên Mỹ do Trương Công Thành một vị tướng dưới thời Lý, truyền dạy cho dân. Nhớ tới công đức của ông, dân Chuyên Mỹ tôn ông là tổ nghề khảm.
         Từ những vỏ trai, vỏ ốc tưởng như vô dụng những người thợ khảm Chuyên Mỹ với bàn tay tài hoa, khéo léo có thể tạo ra bất kỳ họa tiết nào dù tinh vi phức tạp đến đâu. Trước đây, người thợ Chuyên Mỹ chủ yếu làm hoành phi, câu đối và trang trí một số đồ gỗ sang trọng như sập gụ tủ chè. Ngày nay theo nhu cầu của thị trường, các sản phẩm Chuyên Mỹ đa dạng với chất lượng cao thoả mãn nhu cầu của thị trường trong nước cũng như quốc tế. Du khách đến đây ngày một đông để chiêm ngưỡng những sản phẩm độc đáo 
         Người làng Ngọ với đôi bàn tay cần mẫn tài hoa đã tạo ra nhiều loại sản phẩm tinh xảo mà ta luôn khâm phục tài năng cả họ. Trong cuốn “ Dẫn luận chung cho nghiên cứu kỹ thuật của dân Việt Nam” in năm 1909, tác giả Oger đã nhận xét “ thợ khảm là nhà nghệ thuật chân chính, nhẫn nại và khéo tay vô cùng. Họ biết phối hợp các màu sắc của vỏ trai để có sự hòa sắc đẹp mắt, làm cho bức khảm trở nên sặc sỡ. Chính vì thế mà nghề khảm trở nên nổi trội rất được ưa chuộng”
          Nghề khảm Ngọ Hạ qua năm tháng đã phải trải qua bao bước thăng trầm. Ở làng Ngọ, xã Chuyên Mỹ có tơi 70% số hộ có lao động theo nghề khảm  và tham gia các hoạt động dịch vụ phục vụ cho phát triển ngành nghề. Từ cái nôi, điểm xuất phát của nghề khảm tại làng Ngọ, đến nay nghề này đã lan cả 4 thôn khác là thôn Trung, thôn Thượng, thôn Đồng Vinh và thôn Bối Khê, vừa làm khảm trai vừa phục vụ cho nghề. Có thể nhắc đến Chuyên Mỹ là một xã nghề. Nếu tính giá trị thu nhập từ ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Chuyên Mỹ chiếm tới 72% tổng giá trị và đây chính là nguồn thu nhập khá giúp cho Chuyên Mỹ trở nên giàu có. Mặc dù biến động của thời gian, nhiều lúc gian truân, chìm nổi nhưng Chuyên Mỹ vẫn giữ được một HTX thủ công ngày càng có tiếng đó là HTX sơn khảm Ngọ Hạ . ra đời từ năm 1960, với phương thức tổ chức tập trung, những năm 1970 hàng thủ công Ngọ Hạ đã có mặt ở nhiều nước XHCN lúc bấy giờ. Đã có thời điểm 4 HTX thủ công của xa Chuyên Mỹ được hợp nhất lại thành một HTX giải quyết việc làm cho hơn  ngàn lao động, vào lúc khó khăn, HTX lại được tách ra và từ năm 1990 HTX Ngọ Hạ vẫn duy trì sản xuất tiếp tục hàng khảm lựa theo cơ chế thị trường. từ năm 1990 đến 1994 các mặt hàng như tủ chè, sập gụ, tượng, khay chè…tiêu thụ rất nhạy ở nước bạn Lào và được khách hàng ưa chuộng. Qúa trình trưởng thành và đi lên của HTX là một chặng đường thăng trầm, ảnh hưởng của cơ chế nên ngày càng tìm ra những quy luật, giải pháp làm ăn có hiệu quả. Hàng khảm không chỉ tiêu dùng nội địa theo thị hiếu Việt Nam, mà sản phẩm Chuyên Mỹ đã có mặt ở thị trường nước ngoài cùng với các nước khó tính chưa quen hàng Việt Nam như Anh, Hà Lan, Nhật, Mỹ và hơn 10 nước trên thế giới.
          Khảm trai, ốc là công đoạn cuối cùng để hoàn thành sản phẩm, nhưng các mặt hàng khảm có thể chia ra 2 mảng lớn như:
          -khảm trai, ốc trực tiếp trên các sản phẩm mộc như gỗ, đồng, đồi mồi…
          - khảm trai ( ốc ) sơn mài.
          Người thợ làng Ngọ có thể thực hiện bất kỳ hình vẽ nào dù tinh tế và phức tạp đến mức nào. Công việc rất nghệ sĩ này đã tự khẳng định và thể hiện tính độc đáo, trí tuệ nhờ vào dôi tay khéo léo, uyển chuyển của những người thợ Chuyên Mỹ. Nếu ai một đôi lần được nhìn thấy và chiêm ngưỡng đôi bàn tay, sự tài hoa đang cần mẫn của người thờ làng Ngọ đang trổ tài đều phải khâm phục và ngưỡng mộ. Có thể hình dung mỗi vật khảm trai, ốc tự nó đã phản ánh tính thời đại và tính hữu dụng thẩm mỹ của nó. Căn cứ vào đặc điểm này sản phẩm của Chuyên Mỹ được chia thành 2 loại lớn: đồ thờ cúng gồm tam sơn, làm bằng gỗ trắc, gụ ở mép có khảm các đường  kỷ hà, phần bên trong thì khảm các hình núi non, cây trái như trúc, đào, lựu, mai…Loại hoành phi câu đối các cỡ, có trang trí đường viền khảm kiểu chữ triện, khảm hình đồng xu, hay những cành cây, chim muông, bên trong khảm chữ Nho. Ngoài ra, còn có án thư, hòm sắc các cỡ, ống quyển, bao kiếm khảm hình rồng, thẻ bài các kiểu khá phong phú.
          Về đồ gia dụng và khánh tiết gồm các loại như đĩa khảm cá hay hoa, khay, quả trầu, trang trí theo lối triện hay hoa dây ở mép viền, trên mặt khảm hoa quả, chim muông, ở trong các ô ngăn cũng khảm rất tinh xảo. hộp mỹ phẩm khảm hoa to hoặc trang trí hoa chìm lá cuốn. Lọ hoa các cỡ khảm cá ngũ sắc, bàn cờ; bình phong thì khảm cảnh vật bốn mùa; tranh khảm lấy tích trong truyện dân gian; sập chủ yếu khảm cảnh núi non, hoa cỏ ở vai và chân sập. Tủ chè và tủ chùa cũng được khảm khá tinh vi, lấy các điểm tích của Trung Quốc xưa như kêt nghĩa vườn đào, anh hùng tương ngộ…các loại bàn ghế đủ cỡ cũng khảm trai, ốc nổi với nhiều mẫu mã đẹp, dựa vào các tích truyện và bình hoa có tính chất cỏ kính, mỹ miều. Ngoài ra, tùy theo các mẫu mã, thị hiếu trong và ngoài nước, thợ làng Ngọ còn đáp ứng theo yêu cầu đặt hàng với các loại như tẩu thuốc lá, cán ba toong, nậm rượu hay các thứ hàng độc đáo khác, hàng  lưu niệm đủ loại.
          Tùy theo giá trị của vật phẩm và thị hiếu người tiêu dùng mà người thợ khảm họa tiết vào đó trai hay ốc, khi nhìn vào sẽ  óng ánh màu hồng sáng rực rỡ hay rực lên ánh sáng của những ngọn lửa màu ngọc huyền bí và lấp lánh. Đó chính là vẻ đẹp vĩnh hằng được gạn lọc kỹ càng từ những con trai, ốc của vùng chiêm trũng quê hương hay ở mầu ngũ sắc của các loại trai, ốc, màu lửa. Ngày nay, theo thị hiếu khách hàng, người thợ Chuyên Mỹ còn nhập các loại  trai, ốc từ Trung Quốc, Singabo hay ốc “ tai gấu” ốc đơn canh Nhật Bản để khảm những sản phẩm kiệt tác, để lại cho đời vẻ đẹp mãi mãi.
          Để chế tác các sản phẩm, người thợ phải tự tìm tòi để thao tác những công đoạn hết sức nghiêm ngặt, tỷ mỉ và phức tạp qua nhiều giai đoạn khác nhau. Riêng việc cắt gọt các họa tiết trai, ốc đã có cưa nhỏ, bàn giũa, mỏ kẹp, dao và các loại giũa nhỏ, bàn hộp, bút tỉa, lưỡi đục các loại, bút đanh để vạch hàng thành các họa tiết trai, ốc cần khảm. chính dựa vào các đường nét đó, người thợ đục chạm trên sản phẩm để gắn họa tiết. Như vậy với hàng gỗ được phân ra nhiều công đoạn từ gỗ đưa qua xẻ, phay, chạm hàng gỗ rồi khảm, gắn, mài, tách nét, đánh bóng. Với hàng sơn mài, người thợ trải qua những công đoạn có phần phong phú và tỷ mỷ hơn. Những khâu trên được làm đi, làm lại nhiều lần, ví dụ như đánh vải, để tránh cong vênh nứt nẻ sản phẩm, rồi bó, dùng sơn ta trát trên mặt cốt, rồi mài bó, vóc, mài vóc (làm nhiều nước bằng sơn ta)…Các sản phẩm khảm trai, ốc sơn mài được hoàn mỹ và bền chắc trải qua hanh khô hay khí trời ẩm ướt vẫn không bị thay đổi…Đó là một quá trình lao động chính xác, tỷ mỷ bằng cả tấm lòng tâm huyết và cái tâm trong sáng của người thợ khảm Chuyên Mỹ. Ngoài ra một yếu tố không kém phần quan trọng là nghệ thuật tạo cốt và việc chế tác nguyên liệu của người thợ. Đối với chất liệu gỗ, có thể sản xuất tại các xưởng ở tại xã, gia đình hoặc thuê mướn thợ nơi khác đến làm hoặc đặt gia công cốt mộc ở những vùng quê nổi tiếng khác như Đồng Ky ( Hà Băc), La Xuyên (Nam Hà)…Qua nhiều thế hệ người thợ ở Chuyên Mỹ  đã rút đúc kinh nghiệp trên chất liệu sơn ta ( loại sơn ta đặc quánh ở Hưng Hóa, Tuyên Quang) để tạo nên những sản phẩm thật hoàn mỹ, giá trị cho đời…
          Sản phẩm của Chuyên Mỹ ngày càng đa dạng, phong phú về mẫu mã với nhiều mặt hàng mới. Mới đây, HTX thủ công sơn khảm Ngọ Hạ còn làm nhiều sản phẩm từ cốt nứa ( đã ngâm nứa rất kỹ) để tạo ra các loại chum, lọ, bát, hộp, tráp, đĩa…xuất sang các nước Nam Mỹ và Anh Quốc. Điều đáng quý là ở đây luôn giữ chữ tín cho nghề, thợ Chuyên Mỹ không làm hàn kép phẩm chất để ảnh hưởng đến uy tín của nghề. Hàng sơn khảm Ngọ Hạ đã nhận đựơc nhiều phần thưởng cao quý như Huy chương vàng triển lãm hội chợ Giản Võ 1998, bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa vào năm 1996, UBND tỉnh Hà Tây công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề năm 2000. người thợ Chuyên Mỹ ngoài sản xuất tại địa phương từ rất sớm còn bôn ba khắp nơi để truyền nghề, làm nghề. Ở Hà Nội có phố Hàng Khay, phố của những thợ khảm Chuyên Mỹ  với nhiều cửa hàng sang trọng và nhiều thành phố khác cũng bày bán mặt hàng khảm Ngọ Hạ . trong sự phát triển đi lên của khoa học kỹ thuật, trước cơ chế thị trường đầy biến động, người thợ Chuyên Mỹ luôn kế thừa và phát huy được tinh hoa của nghề. Họ đã nhanh chóng tiếp cận khoa học kỹ thuật, cải tiến và hiện đại một số công đoạn, để giảm sức lao động, tăng năng suất và hiệu suất để tăng khối lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội. Trải qua bao đời nay, người thợ khảm vẫn bảo vệ được truyền thống lao động và sáng tạo của cha ông đẻ  giữ mãi tiếng thơm cho một làng nghề của Việt Nam. Hàng sơn khảm Ngọ Hạ ngày càng phong phú đáp ứng thị hiếu trong nước và quốc tế, trở  thành một ngành mỹ nghệ dân gian, một nghệ thuật để tôn vinh vẻ đẹp cho cuộc sống con người. Từ nơi phồn hoa đô hội, các khách sạn sang trọng hay những ngôi nhà cổ kính, đến các biệt thự có hạng, hàng sơn khảm Ngọ Hạ như một thứ không thể thiếu được làm tăng thêm vẻ đẹp hiện đại, lộng lẫy thể hiện sự giàu sang mà bàn tay và khối óc người thợ Chuyên Mỹ đã tạo ra. Xưa kia, hôm nay và mãi mãi mai sau chắc rằng mặt hàng sơn khảm Ngọ Hạ, làng nghê Chuyên Mỹ, Phú Xuyên vẫn phát huy nét đẹp và tiềm năng, xứng đáng là nơi lưu giữ và sản xuất ra thứ sản phẩm đẹp và quý cho muôn người, muôn đời sau.

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Làng nghề Thêu tranh Quất Động

Có những tác phẩm không được vẽ lên từ sơn dầu, bột màu, không được khắc hoạ qua chổi lông, bút vẽ mà được hình thành từ cây kim sợi chỉ. Đó là những bức tranh thêu tay Việt Nam, những tác phẩm đặc sắc của người phụ nữ Việt Nam được sáng tạo bằng đôi bàn tay khéo léo 
Không biết nghề thêu có từ bao giờ, chỉ biết rằng năm 40 sau Công nguyên trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, lá cờ thêu 6 chữ vàng “ trả thù nhà, đền nợ nước” tung bay đã làm quân thù hồn xiêu phách lạc. Nghề thêu cho đến nay vẫn chỉ được coi là một nghề phụ, một công việc nội trợ của người phụ nữ Việt Nam. Về bản chất nghệ thuật thêu tay là vô cùng tinh tế.
  Ông tổ của nghề là Lê Công Hành (1606-1661). Ông có tên là thật là Trần Quốc Khái, vốn dòng họ Mạc, đỗ tiến sĩ vào đời Lê Chân Tông, là viên quan thượng thư triều Lê, cũng là người trong làng. Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, ông được vua Lê Thái Tổ cử làm người dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc. Trong thời gian này, ông học được cách làm lọng và nghề thêu truyền thống rất đặc sắc của Trung Hoa. Sau khi về nước, ông đã đem những kiến thức mình học được dạy cho dân làng Quất Động về cách làm lọng, thêu thùa, pha từng đường kim mũi chỉ theo cách của người Bắc Kinh.Hằng năm, ngày 12 tháng 6 âm lịch, dân làng 5 xã lại tổ chức lễ tế tổ trưởng để tưởng nhớ công đức của ông.
  Hơn 300 năm qua, nghề thêu đã phát triển rộng khắp với sức sống mãnh liệt, người làm nghề đã kéo nhau lập thành những phố nghề. Giờ đây đến Quất Động - quê hương của nghề thêu truyền thống với hàng trăm cơ sở tư nhân, quy mô từ vài chục đến hàng trăm cây kim. Người thợ thêu Quất Động không chỉ là những người thợ cần cù, tỉ mỉ mà họ còn là những người nghệ sỹ thực sự. Ngoài nghề thêu tay, làng Quất Động và những làng lân cận vẫn còn giữ cả nghề thêu ren.
  Ban đầu, làng thêu chủ yếu phục vụ cung đình và các nhà quyền quý, đền chùa và phường tuồng. Kỹ thuật thêu cũng đơn giản, dùng năm màu chỉ: vàng, đỏ, tím, xanh, lục. Các loại hình thêu và kỹ thuật thêu lúc này còn thô sơ, đơn giản, chủ yếu là câu đối, trướng, nghi môn treo ở đình chùa. Theo thời gian, nghề thêu càng phát triển và kỹ thuật thêu càng tinh tế, khéo léo hơn với thêu trắng, thêu màu nổi, thêu cuốn và thêu kim tuyến. Các sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa như thêu long phụng, uyên ương hồ điệp... đã được đông đảo các tầng lớp quí tộc vua quan ưa chuộng. Không những thế, chúng còn theo chân các lái buôn sang biên giới các nước láng giềng như Lào, Thái Lan… như một sứ giả của văn hóa Việt Nam tại đất bạn.
  Người thợ thêu Quất Động không chỉ là những người thợ cần cù, tỉ mỉ mà họ còn là những người nghệ sỹ thực sự. Công cụ dùng trong nghề thêu khá đơn giản. Các thợ thêu chỉ sử dụng một số thứ vật liệu ở mức tối thiểu:
  - Kim thêu
  - Khung thêu các cỡ, kiểu tròn và kiểu chữ nhật
  - Kéo, thước, bút lông, phấn mỡ
  - Chỉ thêu các màu
  - Vải thêu (vải trắng, sa tanh, lụa...)
  Các nhóm hàng truyền thống như: câu đối, nghi môn, tàn lọng, cờ, biển, trướng, các loại trang phục sân khấu cổ truyền, các đồ gia dụng như chăn, ga, gối, nệm, khăn trải bàn, khăn ăn… đến các sản phẩm cao cấp như áo thêu, tranh thêu… những sản phẩm của Quất Động đều chứa chan tinh túy đất Việt, tạo nên vẻ đẹp thuần khiết, tinh tế mà hiện đại thu hút rất nhiều khách hàng gần xa. Với đôi bàn tay khéo léo và bộ óc sáng tạo của người thợ thêu, người Quất Động đã làm ra nhiều sản phẩm, từ các mẫu truyền thống đến các mẫu hiện đại. Hàng thêu Quất Động đã từng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc, hiện nay vẫn chiếm được cảm tình và tín nhiệm của khách hàng trong và ngoài nước. Chỉ bằng những đường chỉ thêu mà họ đã tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại
Lúc đầu, kĩ thuật thêu cũng đơn giản, màu sắc cũng chỉ mới có năm màu vàng, đỏ, xanh, tím, lục. Sau này, hàng thêu có thêm nhiều nguyên liệu mới như vải sa tanh, lụa; chỉ thêu cũng có nhiều màu và kĩ thuật thêu cũng tinh tế, khéo léo hơn.
Người thợ thêu vùng Quất Động giống như những hoạ sĩ dân gian khéo tay, tinh mắt. Bằng cây kim và những sợi chỉ màu, họ đã tạo nên những bức tranh tinh xảo hoà hợp màu sắc trên nền lụa. Từ những đường phấn vẽ phác mờ trên nền lụa, người thợ thêu Quất Động khéo léo đi từng đường kim mũi chỉ tạo dần nên hình ảnh cỏ cây, hoa lá, chim muông, mây nước mềm mại, tươi tắn như bức tranh sống động nhiều màu sắc. Đặc biệt, để bức tranh thêu có màu sắc đẹp, người thợ thêu thợ đòi hỏi phải nắm vững kĩ thuật phối màu dựa trên việc chọn lựa màu chỉ thêu cho phù hợp.
Tranh thêu tay nghệ thuật truyền thống vùng Quất Động ngày nay có nhiều chủ đề khác nhau như: tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh, tranh chân dung... Đặc biệt, những bức tranh thêu phong cảnh của Quất Động thường mang đậm phong cách nghệ thuật Á Đông. Đó là những motip nghệ thuật mang tính khuôn mẫu, nặng tính triết lí. Chẳng hạn như bức "tùng hạc" thể hiện tinh thần thanh tao cứng cáp của người quân tử theo quan niệm của Nho giáo. Bức "uyên ương trong đầm sen" với màu sắc tinh tế phản ánh sự nồng ấm của hạnh phúc. Bức "công trúc" lại khai thác hình tượng chim công sắc màu rực rỡ, múa bên khóm trúc vàng óng thật đẹp mắt. Nói chung, tranh Quất Động khai thác khá mạnh mảng đề tài mang tính cổ điển và ước lệ này, ví dụ như tranh về chim công, hoa phù dung, trúc - hạc, sen - vịt, tùng - hạc, chim trĩ - hoa phù dung... Bên cạnh đó, tranh thêu Quất Động cũng có nhiều đề tài khác như tranh gà, tranh hổ, tranh vinh quy bái tổ, tranh tam đa (Phúc - Lộc - Thọ)...
Làng nghề thêu Quất Động đã có bốn nghệ nhân thêu được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân cấp quốc gia. Một số mẫu tranh thêu cổ vùng Quất Động hiện đang được lưu trữ và trưng bày tại Bảng tàng Lịch sử Việt Nam.
Ngày nay, nghề làm tranh thêu tay ở Quất Động phát triển khá mạnh. Đi đến đâu trong làng cũng thấy có người làm tranh thêu, không chỉ có cụ già, thiếu nữ, mà nhiều nơi nam thanh niên cũng theo đuổi nghề này. Nhờ đó mà tranh thêu tay không chỉ ngày càng phát triển, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong nước và quốc tế mà còn góp phần tôn vinh vẻ đẹp nghề truyền thống của đất nước, con người Việt Nam.
Ngày nay, hòa cùng dòng chảy của thời gian, những đường kim, mũi chỉ tinh hoa đã trở thành niềm tự hào của biết bao thế hệ dân làng Quất Động, để làng nghề của họ đi vào ca dao:   

Hỡi cô mà thắt bao xanh

Có về Quất Động với anh thì về 

Quất Động anh đã có nghề  

Thêu gà thêu vịt, thêu huê trên cành 
Thêu cả tranh sơn thủy hữu tình 
Thêu cả tranh ảnh của mình, của ta"

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Làng nghề mây tre đan Phú Vinh

Từ xa xưa, người Việt Nam đã biết sử dụng mây, tre làm nhà để ở, làm công cụ lao động, làm những chiếc thuyền nan, thuyền thúng vượt biển, những mảnh bè vượt sông... mây, tre còn được sử dụng để làm các vật dụng trong gia đình, làm đồ lưu niệm, nhạc cụ... và ngày nay còn trở thành sản phẩm xuất khẩu có giá trị.
Trên cả nước không ở đâu có nghề mây tre đan phát triển mạnh như Hà Tây ( cũ). Mười tám làng nghề truyền thống mây, tre, giang đan, với nhiều cái tên quen thuộc như Phú Vinh, Trường Yên, Ninh Sở, Bình Phú… góp phần làm rạng danh nghề thủ công truyền thống này của Việt Nam. Ở huyện Chương Mỹ  có làng Phú Vinh nổi tiếng về nghề mây từ lâu đời. Nhân dân ta xưa nay đều coi đất Phú Vinh là "xứ Mây", là quê hương của mây đan với những sản phẩm mỹ nghệ bằng mây đạt tới tỉnh cao nghệ thuật tạo hình dân gian của Việt Nam. Người Phú Vinh cha truyền con nối, đến nay đã sáng tạo được 180 mẫu hàng, xuất khẩu là chủ yếu gồm đủ mọi thứ: đĩa mây, lẵng mây, làn mây, chậu mây, bát mây...
* Đĩa mây: gồm đĩa tròn, đĩa bát giác, đĩa rua miệng, đĩa vuông, đĩa chữ nhật, đĩa bán nguyệt, đĩa vỏ dưa, đĩa hoa muống, đĩa lót tròn...
* Bát mây: có bát răng cưa, bát rua miệng, bát trơn mộc, bát đáy dày...
* Chậu mây: có chậu đứng cong, chậu thắt suốt, chậu thau...
* Lẵng mây: lẵng xách tay, lẵng bán nguyệt, lẵng quai chai...
* Làn mây: làn viên trụ, làn chữ nhật, làn kép, làn đơn...
 Để hiểu rõ những kỳ công của quá trình làm ra sản phẩm mây đan, chúng ta hãy tìm hiểu về cây mây, kỹ thuật chế biến mây và bàn tay tài khéo của người thợ thủ công mà tiêu biểu là người thợ mây Phú Vinh. Cây mây lớn rất chậm, mỗi năm nó chỉ dài thêm ra được 1 mét, khi dài tới 5 mét thì phải thu hoạch. Cây mây non hoặc già quá chất lượng đều kém. Muốn cây mây thẳng, khi trồng phải đặt rễ mây cho thẳng. Rễ dài đến đâu cũng phải đào hố trồng sâu đến đấy để đặt rễ cho thẳng.Kinh nghiệm cho thấy, khi đặt rễ thẳng như thế, dù cây mây có leo, có cuốn xoắn vào cây khác thì khi chẻ sợi mây cũng cứ thẳng, không bị vặn.sự cẩn thận, cầu kỳ từ khâu chọn nguyên liệu. Đối với mặt hàng này nguyên liệu chính là cây song, cây mây. Cây mây phải chọn cây có gióng đều, thông thường phải đạt độ dài năm mét, khi chẻ và đan mới dễ dàng. Tuy nhiên, cây mây lớn rất chậm, mỗi năm chỉ dài được một mét. Như vậy, mỗi cây mây từ ngày trồng đến ngày thu hoạch phải mất tới năm năm. Cây mây non hay già thì chất lượng đều kém. Cây non quá, sản phẩm dễ bị mốc, khi chẻ mây dễ bị ọp còn cây già quá khi chẻ dễ bị xơ, đan sẽ không đẹp.
Mây và tre đều là loại cây có chất đường nên dễ bị mọt ăn, chính vì vậy khâu xử lý nguyên liệu cũng hết sức quan trọng. Mây tre mua về sau khi lựa chọn được đem đi sấy. Ở làng nghề, dân làng sử dụng phương pháp thủ công sấy mây tre trong lò kín, phương pháp này giúp loại bỏ lượng đường trong nguyên liệu, sản phẩm không bị mối mọt mà lại có độ bền chắc. Khi sấy, khói nhiều quá hay ít quá mây cũng bị đỏ, nếu làm đúng kỹ thuật mây tre được sấy sẽ có độ trắng sáng đẹp mắt.
Sau đó, mây sẽ được đem ra chẻ thành các nan mỏng. Chẻ nan mây là một kỹ thuật khó, đòi hỏi người thợ có tay nghề cao. Tùy theo từng sản phẩm mà người thợ có cách chẻ nan riêng, sợi nan lúc thì chẻ thành từng ống tròn, lúc chẻ thành bẩy hoặc chín nan mỏng.
Đối với kỹ thuật chẻ nhiều nan mỏng đều tay thì phải người thợ có kinh nghiệm mới làm được. Thân cây mây là thân tròn, phía bên trong lại có lõi nên chẻ không khéo sẽ bị lạng chỗ dầy, chỗ mỏng. Với cách chẻ lột, người thợ sẽ có cách lấy được cả phần cật và lõi của cây mây.
Người thợ khi làm phải bảo vệ ngón tay cái và ngón trỏ bằng vải bọc vì sợi mây tuy mềm mại nhưng sau khi chẻ nhỏ lại có cạnh rất sắc.

Sau công đoạn chẻ, các nan được đem chuốt để có những sợi mây mượt mà, phẳng bóng. Bàn chuốt được người làng nghề tự tạo nên hết sức đơn giản, chỉ bao gồm một tấm sắt tây, đục nhiều lỗ kích thước khác nhau được kẹp bằng bốn đoạn tre.  


Mây sau khi chuốt được phơi ngoài nắng cho thật khô, để nước trong sợi mây thoát hết ra ngoài. Nan mây chưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm. Do đó, phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật, không thể sao nhãng và phải liên tục săn sóc.
Mây phơi khô lại tiếp tục được nhúng vào nước rồi đem đi sấy thêm một lần nữa. Mục đích của việc nhúng nước này là làm cho sợi mây có độ dẻo, tiếp tục cho vào sấy sẽ khiến sợi mây dẻo và mềm hơn. Để cho sản phẩm có độ đa dạng về mầu sắc, người làng nghề Phú Vinh còn có bí quyết tạo mầu riêng. Các nan mây sau khi chẻ, phơi khô, sấy sẽ được nhúng vào các chậu lá cây sòi băm nhỏ đã được nấu sôi. Sợi nan được nhúng vào nước khoảng 15-20 lần sau đó phơi trong nắng cho khô. Các nan nhúng nước sồi sẽ có mầu vàng đều. Muốn mầu đen óng ả, các nan mây được đem ngâm bùn ao từ ba đến năm ngày.
Đây là cách tạo mầu hoàn toàn tự nhiên, không hóa chất giúp cho sản phẩm mây tre đan của Phú Vinh luôn là những sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây hại cho sức khỏe người sử dụng và có độ bền mầu cao tới 30-40 năm.
Nói tóm lại mỗi nghề lại có một kĩ thuật làm riêng mà không nghề nào giống nghề nào. Cũng như vậy nghề đan cũng có khuôn mực của nó. Ấy là phương pháp và nguyên tắc kỹ thuật đan, cài. Dù là thợ hay nghệ nhân, không ai có thể vượt ra ngoài khuôn mực ấy. Chẳng hạn khi đan cái dần, cái sàng, cái thúng, cái nia bằng tre, đã đan long mốt thì chỉ được bắt nan long mốt, đan long đôi chỉ được bắt đều long đôi. Nếu bắt sang long ba, long tư là lỗi ngay. Trong nghề đan mây cũng thế, khi đan chân dung, đã bắt 5 thì phải đè 5 - bắt 6 hoặc 4 đều lỗi... chính từ bí mật của kỹ thuật này sau những suy nghĩ tìm tòi và thử nghiệm công phu trong lĩnh vực tạo kiểu dáng mà hàng loạt mẫu hàng mới khác chưa phải đã là những sáng tạo cuối cùng của nghề mây tre đan Phú Nghĩa.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông

Chiếu Nga Sơn, Gạch Bát Tràng 
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông”
(Thơ Tố Hữu) 

“The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng 
Lụa Vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên”
(ca dao)
Tỉnh Hà Tây từ xa xưa vẫn có câu “Bảy làng La, ba làng Mỗ”, đều làm nghề dệt lụa. Cho nên, có người gọi đây là quê lụa. Có người quá yêu mến, gọi đây là “xứ lụa”. Tuy vậy, lụa Hà Đông nổi tiếng nhất vẫn là lụa Vạn Phúc. Người ta gọi là lụa Hà Đông, chính là lụa Vạn Phúc.
Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh chiếc giếng làng với những bông hoa sen, cạnh cây đa cổ thụ, buổi chiều vẫn họp chợ trước đình. Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. “Lụa Hà Đông” cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa.
Ăn, ở, mặc…là những nhu cầu vật chất cơ bản của xã hội loài người nói chung và Việt Nam nói riêng. Ở Việt Nam có nhiều vị tổ nghề thủ công truyền thống, nhưng không ai không biết đến công chúa Thiều Hoa, người được tôn vinh là Bà tổ nghề dệt lụa - một nghề truyền thống có lịch sử lâu đời gắn bó mật thiết với người phụ nữ Việt Nam. Người Việt Nam từ ngàn xưa đến nay có câu “Người đẹp vì lụa…”, vải lụa là một sản phẩm văn hóa bản địa của Việt Nam có giá trị từ trong lịch sử đến ngày nay. Vải lụa đã đi vào ca dao Việt Nam:
“Lụa này là lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng”
 Truyện kể rằng công chúa là người hiền lành, xinh đẹp nhưng lại không chịu lấy chồng. Nàng từ chối ý định gả chồng của vua cha và sang sống ở trang trại khác. Nàng có biệt tài nói chuyện với chim và bướm mỗi khi vào rừng chơi. Một lần nói chuyện với bướm nâu, biết bướm nâu chỉ ăn một thứ lá dâu để đẻ ra trứng rồi nở thành sâu, nhả ra sợi vàng. Bướm đưa Thiều Hoa ra bãi dâu ven sông thấy hàng ngàn con sâu đang làm kén. Thiều Hoa xin bướm giống trứng và sâu ấy cũng như hỏi bướm cách kéo tơ rồi tìm cách đan chúng thành những mảnh, tấm nõn nà vàng tươi. Nàng đặt tên cho những tấm sợi ấy là lụa. Chính cái tên Thiều Hoa gọi bướm là ngài và giống sâu cho sợi ấy là tằm còn gọi đến ngày nay. Nghề dệt lụa cũng có từ buổi ấy và gắn với truyền thuyết về một nàng công chúa xinh đẹp, một trong những vị tổ nghề quan trọng đặt nền tảng cho một giá trị văn hoá vật chất có sức sống lâu bền đến nay và là niềm tự hào của người Việt. Cùng với sự ra đời của nhiều giá trị văn hoá khác trong lịch sử dân tộc, lụa Cổ Đô gắn với bà tổ nghề là Công chúa con Vua Hùng Vương thứ 6 - Công chúa Thiều Hoa. Các triều đại Vua Hùng gắn với buổi bình minh lập nước của lịch sử Việt Nam

Sau kỳ tích ấy Thiều Hoa đem truyền dạy cho mọi người trồng dâu, chăn tằm, kéo sợi, dệt lụa. Tấm lụa đầu tiên nàng đem tặng Vua cha. Hùng Vương khen ngợi con gái yêu và truyền cho dân chúng theo đó mà dệt lụa. Dân làng Cổ Đô, Vân Sa…rất nổi tiếng về nghề dệt lụa và nhiều làng tôn Thiều Hoa làm tổ sư nghề dệt lụa, làm thành hoàng làng của mình.
Từ bao đời nay, nghề dệt lụa đã trở thành nghề truyền thống của làng Vạn Phúc. Lụa Vạn phúc không giống bất kỳ một loại lụa nào được dệt ở những nơi khác bởi chất liệu mượt mà, mềm mại và độ tinh xảo trong từng đường tơ, từng hoạ tiết trang trí. Chính vì thế lụa Vạn Phúc không chỉ là đặc sản của làng mà còn là một thứ quà quý, một thứ đặc sản truyền thống của người Việt Nam.
Theo truyền thuyết và người dân làng Vạn phúc kể lại thì Tổ nghề  nghề dệt lụa Vạn Phúc là bà Lã Thị Nga. Bà sống vào thế kỷ thứ 7, thứ 8 khi nước nhà bị đô hộ. Bà Lã Thị Nga, con một gia đình hào phú ở Cao Bằng, một lần theo chồng là Cao Biền đi kinh lý tới Ấp Vạn Bảo, thấy đất đai thơ mộng, bà xin ở lại ấp dạy dân trồng dâu nuôi tằm dệt cửi, mang lại nghề dệt lụa cho dân Vạn Phúc. Trong hậu cung của đình làng nơi thờ bà họ Lã hiện nay vẫn bày các thúng sơn, thước sơn, kéo bằng sắt, vạch bằng ngà là những đồ dùng của thợ may. Bà là thành hoàng làng Vạn Phúc. Dân làng vẫn lấy ngày sinh của bà là 10 tháng 8 âm và ngày mất là 25 tháng chạp để tế lễ và giỗ tổ.
Từ lâu, âm thanh từ những khung cửi, từ tiếng thoi đưa rộn ràng, khoan thai, dìu dặt đã trở thành nhịp điệu cuộc sống nơi đây. Cùng tiếng thoi đưa, những nghệ nhân đã tạo ra sản phẩm nổi tiếng: lụa hàng vân, gấm hoa ngũ sắc…Thoạt đầu là những khung dệt thô sơ, giản đơn ban đầu như khung “con cò”, rồi  khung “chân dậm tay thoi”, khung “tay giật, thoi lao”, đến nay đã có nhiều khung dệt khác nhau, mỗi khung cho một sản phẩm mặt hàng lụa khác nhau: hàng trơn, hàng khổ rộng, hàng tơ tằm nguyên chất, hàng Vân… để cho ra các sản phẩm với nhiều chất liệu khác nhau như lụa thường, ngang xe, hay dọc tơ chập, ngang tơ chập, dọc tơ xe…
Người dệt dùng những ngón tay thanh mảnh lao chiếc thoi qua khung dệt. Rồi đến chiếc khung dùng sợi dây để giật cho con thoi lao qua; Và đến chiếc khung cài hoa cải tiến, gồm 2 người, người dệt ngồi dưới, và một người nữa ngồi trên nóc khung, dùng tay lồng từng sợi tơ để tết thành hoa. Rồi đến chiếc khung hôm nay, có hàng nghìn que kim tự động, cài đủ các loại hoa theo ý con người.
Lụa Vạn Phúc nổi tiếng, trước hết là lụa Vân. Vân nghĩa là mây. Có mây trên lụa, nhìn lụa như thấy có mây. Đây là một kỹ thuật tinh tế, mà trước kia chỉ làng Vạn Phúc mới dệt được, cả nước ta không đâu dệt nổi. Lụa là thứ mượt mà, mà lại nổi vân là khó lắm

Trong các mặt hàng lụa ở Vạn Phúc, có lẽ lụa sa tanh là mặt hàng sang trọng nhất, cao cấp nhất. Cũng là tơ lụa, nhưng khi đã trở thành lụa sa tanh, bỗng trở nên cao quý đặc biệt. Lụa sa tanh có chất lấp lánh như thuỷ tinh. Hoa hướng dương, hoa triện viền quanh mặt lụa, càng làm cho lụa sa tanh trở thành quý phẩm. Ta có cảm giác rằng, nếu lụa sa tanh được trang trí trong nội thất ở một nhà nào đó, khi có một người khách lạ  đến và được ngồi vào trong ngôi nhà đó, người khách sẽ ngạc nhiên và nghĩ rằng, sao cuộc đời lại có thể đẹp và hạnh phúc đến chừng này. Người làng Vạn Phúc tự hào và nói không ngoa rằng, ai đã mặc áo lụa sa tanh Vạn Phúc thì người già sẽ trẻ lại, người không đẹp cũng đẹp thêm lên.
Không chỉ dừng lại ở những tấm lụa mượt mà, tha thướt hay những tấm áo đơn giản ngày xưa, hôm nay lụa Vạn Phúc đã được người dân sử dụng để may nhiều mặt hàng khác nữa như quần áo, áo bông, chăn, ga, gối, khăn…đến những vật dụng nhỏ nhắn như túi, ví, xắc tay và những thứ khác dùng làm quà lưu niệm. Điều này đã thể hiện trình độ cao của tay nghề làng Vạn Phúc.
Nhờ nghề dệt lụa, đúng là “nhà nhà dựng xây cơ nghiệp” . Cho đến nay, làng Vạn Phúc vẫn nằm bên dòng sông Nhuệ lượn quanh. Nhưng làng quê mà đẹp như thành phố. Bốn mùa rộn rã tiếng thoi vui. Người Vạn phúc từ lâu đã có lệ đẹp: các cụ ở tuổi thượng thọ được làng may áo lụa để tặng mừng thọ. Chợ Hà Đông, chủ yếu là bán lụa Hà Đông. Ngày nay, lụa Hà Đông cũng có nhiều mầu. Một vài gia đình ở Vạn Phúc nhuộm lụa rất giỏi. Nhưng tôi hỏi một người sành nghề lụa, ông đã cho tôi biết, không có màu nào đẹp hơn nguyên chất mầu lụa. Chỉ có mầu lụa là đẹp nhất và không bao giờ phai. Người thợ có thể nhuộm đủ các loại màu nhưng không thể nào nhuộm được mầu giống như mầu lụa. Cho nên  dẫu "mây bay, sóng lượn" dẫu là hoa quế, hoa lan, hoa hồng, hoa huệ như thế nào, vẫn phải giữ được đúng màu lụa. Chỉ có màu lụa mới được khách hàng ưa chuộng nhất, thế giới ưa chuộng nhất
Lụa tơ tằm Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay có tiếng trong nước và quốc tế. Nó không chỉ đưa lại giá trị kinh tế cho quốc gia, nhiều dòng họ, gia đình, nhiều làng mà còn là một nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam gắn với một vị tổ nghề là phụ nữ sáng lập không có lợi ích riêng, một phụ nữ “Lá ngọc cành vàng”- Công chúa Thiều Hoa.